Saturday, 21 September 2013

Về tính phản bác của "Ai mà không biết"


                                                                       (Đây là một góc nhìn khác về "Ai mà không biết")




Ai mà... là một cấu trúc nghi vấn có ý nghĩa phủ định nằm trong loạt câu nghi vấn phủ định trong tiếng Việt như làm sao mà…, có bao giờ…, có mấy khi..., thiếu gì…, sợ gì…, lo gì…, làm gì…, v.v., rất hay được sử dụng khi người nói muốn phản bác hoặc phủ nhận nội dung được diễn đạt bằng một ngữ vị từ hoặc một tiểu cú đi kèm; hay nói cách khác là nó biểu thị thái độ âm tính (hay tiêu cực) của người nói khi phát ngôn.
Ai mà không… là dạng phủ định của Ai mà…và tất nhiên nó cũng được xem là cấu trúc nghi vấn nhưng vì nó là phủ định của phủ định nên nó (trái với Ai mà) thường được xem là một biểu thức có ý nghĩa khẳng định mạnh (“Ai mà không thích” → “Ai cũng thích” → “(Chắc chắn) Tôi (cũng) thích”).
Tuy nhiên, trong hội thoại, khi đặt trong quan hệ với một phát ngôn đi trước của người đối thoại, Ai mà không… có những biểu hiện đáng chú ý mà trước hết là ý nghĩa phản bác âm tính mạnh của nó.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ thử phân tích những biểu hiện của biểu thức Ai mà không biết để làm rõ tính phản bác âm tính của nó, và từ đó tìm ra cơ chế hành chức của những biểu thức tương tự.

Thursday, 22 August 2013

ĐÂU? hay Ở ĐÂU?



     Trong tiếng Việt, người ta thường dùng “... ở đâu?” khi hỏi vị trí của một hoạt động (họp ở đâu? sống ở đâu? làm ở đâu?, v.v.) và dùng “... đâu?” khi hỏi đích/hướng của sự di chuyển (đi đâu? đến đâu? về đâu? sang đâu?, v.v.).
     Như vậy, ở một số trường hợp có hai cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ pháp khác nhau – dù rất gần nhau.

1.
(1) Chiều nay mình đi chơi ở đâu?
(2) Chiều nay mình đi chơi đâu?
     Ở câu (1) ở đâu có quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa với chơi, trong khi ở (2) đâu có quan hệ với đi. Vì vậy, câu (1) có thể viết lại “Chiều nay mình chơi ở đâu?” và câu (2) “Chiều nay mình đi đâu chơi?” mà ý nghĩa không thay đổi. (Như vậy, hai phát ngôn “Họ đi du lịch Thái Lan” và “Họ đi du lịch Thái Lan” cũng có khác biệt tương tự).

Monday, 22 July 2013

LUÔN


      Luôn là một từ khó, có nhiều biểu hiện ngữ nghĩa khác nhau. Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1995), luôn được định nghĩa như sau: 1. Một cách lặp lại nhiều lần hoặc liên tiếp không ngớt. Đến thăm nhau luôn. 2. Một cách không ngừng hoặc gần như đồng thời, không để có sự gián đoạn. Viết luôn một lúc mấy lá thư. 3. Liền ngay tức thời (sau sự việc có liên quan). Nói xong, làm luôn. 4. Không phải chỉ có tính chất nhất thời, trong một thời gian, mà suốt từ đó về sau là như thế. Nó bỏ làng đi luôn không về nữa.
Về cơ bản, một số tài liệu khác cũng trình bày nghĩa của luôn tương tự.
Những nét nghĩa của luôn diễn giải như trên nói chung là chưa giúp đối lập luôn với những từ có nghĩa gần gũi. Chẳng hạn, với nghĩa 1 luôn có thể thay bằng liên tục, thường xuyên; với nghĩa 2 luôn có thể thay bằng liên tục, liền, ngay; với nghĩa 3 luôn có thể thay bằng liền, ngay; với nghĩa 4 luôn có thể thay bằng mãi, hẳn. Nếu hình dung ngữ nghĩa của luôn rời rạc như vừa nói sẽ dễ dàng đồng nhất luôn với các từ/ngữ có thể thay thế cho nó; và hệ quả là chúng ta có một tập hợp các khả năng “đồng nghĩa” rất đáng ngờ - một hiện tượng khó chấp nhận về mặt lý thuyết. Hơn nữa, theo ngữ liệu mà chúng tôi thu thập được từ một số tác phẩm văn chương, và từ khẩu ngữ tự nhiên (ghi âm) thì luôn còn một vài biểu hiện khác mà Từ điển tiếng Việt (TĐTV) chưa đề cập, không thể thay bằng các từ/ngữ nói trên; và nếu bổ sung những biểu hiện này vào từ điển thì sự rời rạc và bất cập vừa nói lại càng lộ rõ hơn.
Trong phạm vi bài này chúng tôi sẽ phân tích ngữ nghĩa của luôn dựa trên tiền đề rằng ngữ nghĩa của một từ (thường là “hư từ”) bao giờ cũng được hình thành trên một cơ sở nhận thức thống nhất, liên quan đến cách nhận thức thực tại của người bản ngữ. Theo đó, các nét nghĩa của luôn có thể được nhận thức như là các biểu hiện của cùng một nội dung ngữ nghĩa ở mức độ cơ sở của nó (semantic primitives, Wierzbicka 1996); và chính điều này làm cho nó khu biệt với các khả năng thay thế có tính chất tình huống của những đơn vị từ vựng khác.

Monday, 1 July 2013

BỘ...?




     Trong khẩu ngữ Nam bộ có một từ bộ dùng như sau:

Tình huống: Thấy một người bạn hớp một hớp trà rồi lắc đầu, người ta có thể hỏi:

(1) Bộ anh không thích à?

(2) Bộ trà không ngon sao?

   Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) không đề cập từ bộ này, còn Từ điển từ ngữ Nam bộ của Huỳnh Công Tín (2007) thì có đề cập, nhưng giải thích không đúng.

Wednesday, 1 May 2013

TRÁI (LẠI) – NGƯỢC (LẠI) – ĐỔI (LẠI) – BÙ (LẠI)

            Trái, ngược, đổi, là những vị từ “bình thường”, có thể đóng vai trò vị từ trung tâm của phần thuyết/vị ngữ, và có thể làm phó từ khi xuất hiện sau một vị từ khác (Khả năng này rất hay thấy ở trái, ngược, hầu như không thấy ở đổi).
            Trái, ngược, đổi có thể kết hợp với phó từ lại để tạo thành một ngữ đoạn chuyên đóng vai trò trạng ngữ câu; trong đó, quan trọng nhất là trái lại  ngược lại.
Do nghĩa từ vựng của tráingược, nhìn chung các trạng ngữ này có vẻ như chuyên đánh dấu sự đối lập hay khác biệt giữa sự tình trước và sau nó, từ góc độ của người nói. Có thể xem đây là một trạng ngữ cảnh huống: sự tình đi trước tạo thành cảnh huống bất tương hợp cho sự tình theo sau, sự tình theo sau diễn ra trong cảnh huống bất tương hợp mà sự tình đi trước tạo ra.
            Trong đa số trường hợp, sự vắng mặt của loại trạng ngữ này không làm tổn hại gì đến nội dung của phát ngôn, vì trên thực tế sự bất tương hợp giữa hai sự tình đã được bảo đảm bằng chính ngữ nghĩa của các tiểu cú/câu biểu thị hai sự tình đó hoặc bằng liên từ nhưng, , còn. Như vậy, loại trạng ngữ này có lẽ cũng nên được xem là một thứ quán ngữ tình thái chủ quan, ít nhất là về ngữ nghĩa.
            Trong bài này, chúng tôi xuất phát từ trái (lại), từ đó đối chiếu với những trường hợp còn lại.

Khi không...



Tình cờ nghe tình khúc “Trên ngọn tình sầu” của Từ Công Phụng.
Có hai câu rất đẹp:
-          Trời nắng hạ, khi không mà trở rét!
-          Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt, sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa?

Khi không... là một cách nói đã lâu lắm rồi mới được nghe lại, ít nhất là ở cái đất Sài Gòn này.
Khi không... giống như tự nhiên: “(khi) không có lý do”.
Người miền Nam thường dùng khi không hay tự nhiên để “bình” về một “sự” gì đó mà mình không biết sao lại xảy ra.
Có vẻ gì đó rất hồn nhiên, ngây thơ, chứ không “cứng nhắc” như những từ đã "hư" quá nhiều: bỗng/bỗng dưng/bỗng nhiên.

Wednesday, 3 April 2013

CHÚ Ý – ĐỂ Ý – LƯU Ý – COI CHỪNG



CHÚ Ý
     Chú ý là một vị từ tri giác, với nghĩa là đặt hay hướng tâm trí vào một thực thể/hoạt động nào đó nhằm một mục đích hoặc vì một lý do nhất định.

(1) chú ý môn toán nhiều hơn các môn khác.
(2) Ở đó có nhiều người nhưng hắn chỉ chú ý cô gái áo vàng.
(3) Cô ấy chú ý mấy cái áo thêu kia hơn.
(4) Sự nhiệt tình của nó làm mọi người chú ý (đến nó).
(5) Báo cáo đó được chú ý nhất trong hội thảo.

     Chú ý là vị từ biểu hiện một hoạt động tinh thần (quá trình tinh thần) nhưng nó có những đặc trưng của một vị từ hành động ([+chủ ý] [+động]) vô tác.
(6) Nó đang chú ý nghe giảng.
(7) Đừng/Nên chú ý chuyện đó!
(8) Kiểu váy này đang được chú ý.
(9) Hắn bắt đầu chú ý đến gia đình chứ không còn cặp bè cặp bạn như trước nữa.