Friday, 22 September 2017

CẢ và TẤT CẢ



Cảtất cả là hai từ([1]) đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng hầu như chưa có tài liệu ngữ pháp nào lập thức đủ rành mạch để có thể ứng dụng vào việc dạy tiếng. 
            Từ điển Hoàng Phê 2014 định nghĩa: cả: (đại từ) toàn thể, hết thảy, không trừ một ai hay thành phần nào; (trợ từ) biểu thị ý nhấn mạnh về mức độ cao, phạm vi không hạn chế của sự việc; tất cả: từ dùng để chỉ mọi đối tượng được nói đến, không trừ một đối tượng nào.
Cách đây hơn nửa thế kỷ, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đã bàn khá chi tiết về những từ này. Theo các tác giả, cảtất cả là “lượng từ toàn thể” (tất cả là “từ kép”) dùng để trỏ “toàn thể của một sự vật” hoặc “nhiều sự vật hợp lại thành một toàn thể” [6: 327]; lượng của toàn thể này có thể là “toàn lượng nhất định” (“nhất định” ở đây có thể được hiểu là “chính xác”, vd: “cả năm quả cam”), “toàn lượng bất định (vd “tất cả cam”) hoặc “toàn lượng phỏng chừng” (vd: “cả mấy quả cam”). Những nhận xét của tác giả chưa cho thấy sự khác biệt giữa cảtất cả. Hơn nữa, các tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng tất cả có thể kết hợp trực tiếp với danh từ khối (“tất cả vải”, “tất cả cam”) và giải thích: “vì nói đến toàn lượng bất định, nên ý “bất định” ấy ảnh hưởng đến thể từ chính, và thể từ chính không có loại từ hay lượng từ đơn vị” [6: 328].
            Nguyễn Anh Quế (1988) có nhận xét rõ hơn về từ cả: “Cả đại từ luôn luôn đứng trước một D để biểu thị số nhiều toàn bộ hoặc toàn bộ một số đơn nhưng hàm ẩn nghĩa là bên trong có chứa đựng một số nhiều sự vật hoặc cá thể khác (nếu danh từ trung tâm chỉ sự vật, chỉ đơn vị hành chính) hoặc hàm ẩn ý nghĩa toàn bộ thời gian trong đơn vị ấy (nếu danh từ trung tâm chỉ thời gian)”. Ngoài ra, tác giả còn đề cập hai cả khác: cả hư từ (tạo thành cặp liên từ đẳng lập: cả... lẫn..., cả... và...) và cả trợ từ “để nhấn mạnh” (giống như ngay cả, cả đến)” [4: 219]. Về tất cả thì tác giả chỉ nhắc đến khi so sánh với mọi: “tất cả có thể chỉ toàn bộ nhiều sự vật, mà cũng có thể chỉ toàn bộ một sự vật” [4: 76]. Những nhận xét vừa trích, đặc biệt là về cả đại từ, của Nguyễn Anh Quế rất đáng suy nghĩ, dù chưa hoàn toàn minh bạch.
            Cao Xuân Hạo, trong công trình năm 1982, xem cả là lượng từ [1: 271] nằm trong thế đối lập với nửa; trong công trình 1997, xem cảtất cả là phân từ hay phân lượng từ (quotifier) [1:391]; trong công trình 2006 lại xem là lượng từ không xác định [2: 102]. Thậm chí, có chỗ ông xem cảtất cả là đại từ đảm đương chức năng phân lượng: “Chức năng phân lượng có thể do danh từ (nửa, phần, đa số), đại từ (cả, tất cả), ngữ đoạn phó từ (hết, hầu hết, tuyệt đại đa số)” [1: 366]. Những kiến giải của ông về cảtất cả rất thuyết phục, dù thuật ngữ chưa nhất quán, và có nhiều chi tiết cần phải được làm sáng rõ thêm.
Theo đó, về ngữ pháp, cảtất cả “chỉ có thể kết hợp với danh từ đơn vị chứ không bao giờ kết hợp được với danh từ khối”, vì “danh từ đơn vị biểu thị những thực thể phân lập trong không gian (hay một chiều kích nào khác) và do đó có thể đếm được và chia được” [1: 393]. Từ đó, tác giả giải thích rằng những từ như phát, giọt, lúc, bên, nơi, lần “tuy là đơn vị và do đó có thể đếm được, nhưng lại không có kích thước xác định trong không gian (nơi, bên) hay thời gian (lúc, lần) hoặc quá nhỏ (giọt, phát) để có thể chia nhỏ hơn nữa” [1: 273] cho nên không thể kết hợp với cả (tác giả không xét tất cả) [1: 272].
            Khác với các tác giả khác, Nguyễn Đức Dân trong công trình năm 1987 đã bàn đến từ cả khi minh họa giả thuyết chuyển hóa từ thực từ sang hư từ. Theo ông, ban đầu, cả vừa có nghĩa “nhiều, lớn” vừa có nghĩa “tổng thể”, với hai vị trí đứng sau hoặc đứng trước từ mà nó đi kèm. Dần dần có sự phân biệt: cả đứng trước danh từ có nghĩa “tổng thể, toàn khối”, hoạt động với tư cách “đại từ”. Chính cả đại từ này chuyển hóa thành cả “nhấn mạnh” qua nhiều cấu trúc trung gian [5: 182-184]. Nguyễn Đức Dân không miêu tả đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của cả, và cũng không phân biệt cả với tất cả; nhưng những diễn giải của ông gợi ra nhiều điều thú vị để tiếp tục khảo sát hai từ trên dưới góc độ đồng đại.
            Trong bài viết này, chúng tôi tiếp thu những thành tựu của những tác giả đi trước và cố gắng phân tích rõ hơn ngữ pháp và ngữ nghĩa của hai từ cảtất cả. Để dễ theo dõi, chúng tôi vẫn gọi cảtất cả là lượng từ, theo “ngữ pháp truyền thống”, thay vì phân từ hay phân lượng từ – một thuật ngữ ít quen thuộc – dù sự khác biệt hai thuật ngữ này đã được Cao Xuân Hạo nêu rõ [1: 391].
           

Thursday, 15 September 2016

NGỮ PHÁP CỦA “LƯỢNG”, “SỐ” VÀ “SỐ LƯỢNG”




Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê CB 2003) đưa ra định nghĩa: lượng (d): 1 “mức độ nhiều ít, có thể xác định được bằng con số cụ thể”, 2 “phạm trù triết học chỉ các thuộc tính của sự vật và hiện tượng trong thế giới khác quan về mặt khối lượng, kích thước, tốc độ, v.v.”; số (d): “tập hợp những vật cùng loại, về mặt đếm được nhiều hay ít”; số lượng (d): 1 “con số biểu thị sự có nhiều hay có ít”, 2 “như lượng” (nghĩa 2)(1).
Từ những năm 1980, Cao Xuân Hạo (và nhiều tác giả khác) đã lập luận rằng tính [±đếm được] là thuộc tính ngữ pháp chủ yếu của danh từ tiếng Việt [1: 304]; và căn cứ thuộc tính đó, ông phân danh từ tiếng Việt ra thành danh từ đơn vị [+đếm được] và danh từ khối [-đếm được]. Như vậy, có vẻ như có một sự "trùng khớp" về cả nội hàm và ngoại diên giữa khái niệm danh từ đếm được và danh từ đơn vị, giữa danh từ không đếm được và danh từ khối.

Sunday, 5 July 2015

HÃY...! và ...ĐI!



1.  Ở nhiều thứ tiếng, chẳng hạn tiếng Latin, tiếng Anh([1]), câu mệnh lệnh thuộc một thức ngữ pháp (imperative mood), phân biệt với những phát ngôn thuộc thức trần thuật (indicative) và thức giả định (subjunctive). Dĩ nhiên, cấu trúc trần thuật, bao gồm cả cấu trúc nghi vấn, cũng có thể có lực ngôn trung (illocution force) như một phát ngôn thuộc thức mệnh lệnh.
     Trong đa số các sách ngữ pháp tiếng Việt, thuật ngữ "câu mệnh lệnh" (hay "câu cầu khiến", "câu sai khiến", "câu khuyến lệnh") nằm trong sự phân biệt với "câu trần thuật" (hay "tường thuật"), "câu nghi vấn" và "câu cảm thán" – bốn loại câu phân loại theo “mục đích phát ngôn”([2]). Theo đó, câu mệnh lệnh được hiểu là một phát ngôn tác động trực tiếp vào người nghe, nhằm làm người nghe thực hiện một hành động được nêu trong nội dung phát ngôn đó.
     Tiếng Việt, cũng như nhiều ngôn ngữ khác, có nhiều phương thức diễn đạt “mệnh lệnh”; trong đó hãyđi có thể xem là hai chỉ tố từ vựng nổi bật. Người nói sử dụng hãyđi để hiển ngôn trực tiếp hành động yêu cầu; người nghe (có khi bao gồm cả người nói) ở vào tình thế phải thực hiện yêu cầu đó. Chẳng hạn:
(1) Em hãy trình bày ý nghĩa lịch sử của cách mạng Pháp!
(2) Cuộc họp kết thúc. Chúng ta hãy trở về làm việc!
(3) Con khóa cửa đi!
(4) Em ăn đi!

Saturday, 9 May 2015

Ngữ nghĩa của "nếu"

Câu điều kiện tiếng Việt từ trước đến nay thường chỉ được đề cập thoáng qua trong các sách ngữ pháp với tư cách là một tiểu loại của câu ghép chính phụ. Do chưa được xem trọng nên – so với tiếng Anh, tiếng Nhật chẳng hạn – nhiều vấn đề của nó vẫn chưa được làm sáng tỏ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến ngữ nghĩa. Hơn nữa, trong nhiều tài liệu, câu điều kiện (hay điều kiện-kết quả) lại được đặt song hành với các kiểu câu nguyên nhân (hay nguyên nhân-kết quả), câu nhượng bộ, câu tăng tiến, v.v. lại càng làm cho nội dung ngữ nghĩa của câu điều kiện trở nên khó hình dung và mang tính biệt lập([1]).
Do ngoại diên quá rộng của khái niệm “câu điều kiện”, để tránh nhầm lẫn, trong bài này chúng tôi chủ yếu chỉ bàn đến cấu trúc có nếu, thường có dạng Nếu P thì Q (và để tiện trình bày, một số chỗ chúng tôi sẽ gọi tắt là “cấu trúc/biểu thức nếu”). Chúng tôi sẽ nhìn nhận lại biểu hiện của hai nét nghĩa cơ bản nhất là nhân quả và giả định của nếu – thường được các sách ngữ pháp cho là chỉ tố tiêu biểu của câu điều kiện. Qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về ngữ nghĩa của câu điều kiện tiếng Việt.

QUAN HỆ NHÂN QUẢ VÀ CÂU ĐIỀU KIỆN



QUAN HỆ NHÂN QUẢ VÀ CÂU ĐIỀU KIỆN[1]


1.         Câu điều kiện (conditionals) và câu nguyên nhân (causals) thường được trình bày trong các sách ngữ pháp nhà trường (ngữ pháp “truyền thống”) như là hai kiểu câu không hề có sự liên quan gì về ý nghĩa. Tuy nhiên, ngay từ những mô hình câu điều kiện mang tính hình thức này, đã từ lâu, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng quan hệ điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên rất khác với quan hệ điều kiện trong logic học. Và cái làm nên sự khác nhau đó chính là quan hệ nhân quả hàm chứa trong câu điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên. Nhờ phát hiện này, câu nguyên nhân và câu điều kiện trở nên rất gần gũi về ý nghĩa: giữa hai mệnh đề tạo câu cùng tồn tại mối quan hệ nhân quả.
Và trong một chừng mực nào đó có thể nói rằng phát hiện về tính nhân quả là một nỗ lực của các nhà ngôn ngữ nhằm bổ sung cho thuyết hàm chân ngụy, nhằm góp phần giải thích ý nghĩa câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên.
       

Tuesday, 7 April 2015

CÁCH SỬ DỤNG DANH TỪ ĐƠN VỊ TIẾNG VIỆT



1. Dẫn nhập
Trong mươi năm gần đây, cùng với quá trình dạy tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ thứ hai, có rất nhiều vấn đề lộ ra, cho thấy ngữ pháp tiếng Việt chưa thật sự được lập thức một cách đầy đủ và hệ thống. Loại từ là một trong những vấn đề như thế. Có thể nói, đối với người nước ngoài, đây là một thách thức lớn đeo đẳng họ từ những giờ đầu tiên theo học đến khi họ được xem là thành thạo tiếng Việt.
Thật ra, danh từ đơn vị là một trong những khái niệm ngữ pháp được rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung khảo sát (Nguyễn Tài Cẩn, Lý Toàn Thắng, Hồ Lê, Trần Đại Nghĩa, Vũ Đức Nghiệu, Cao Xuân Hạo, v.v.) với tên gọi “từ chỉ loại”, “danh từ chỉ loại”, “danh từ đơn thể”, (và phổ biến nhất là) “loại từ”; và diện mạo của nó ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Đặc biệt, với hàng loạt công trình trong những năm 1990, Cao Xuân Hạo đã đứng hẳn trên bình diện ngữ pháp để xử lý danh từ đơn vị trong khuôn khổ của một cấu trúc danh ngữ, dù rằng quan niệm của ông có nhiều điểm vẫn còn đang tranh cãi [5] [7].

Wednesday, 4 February 2015

Sắc thái âm tính của “Ai mà không biết!”



       Ai mà... là một cấu trúc nghi vấn có ý nghĩa phủ định nằm trong loạt câu nghi vấn phủ định trong tiếng Việt như làm sao mà…, ở đâu ra…, có bao giờ…, có bao nhiêu…, có mấy khi..., thiếu gì…, còn gì… , sợ gì…, lo gì…, làm gì…, cần gì..., v.v., rất hay được sử dụng khi người nói muốn phản bác, đính chính, hoặc bày tỏ sự ngờ vực, sự không hài lòng của mình; hay nói cách khác là nó biểu thị thái độ âm tính (hay tiêu cực) của người nói, đối với một phát ngôn trước đó của người đối thoại.
Về logic, Ai mà không... tương tự như Ai cũng…, cả hai đều diễn đạt một phán đoán tổng quát. (Đúng ra, “Ai mà không...?” mang hình thức một câu hỏi tổng quát). Tuy nhiên, giữa nó và Ai cũng tồn tại một khác biệt cơ bản về sắc thái: Ai mà không là một cấu trúc âm tính trong khi Ai cũng trung tính.