Câu điều kiện tiếng Việt từ trước đến nay thường chỉ
được đề cập thoáng qua trong các sách ngữ pháp với tư cách là một tiểu loại của
câu ghép chính phụ. Do chưa được xem trọng nên – so với tiếng Anh, tiếng Nhật
chẳng hạn – nhiều vấn đề của nó vẫn chưa được làm sáng tỏ, đặc biệt là các vấn
đề liên quan đến ngữ nghĩa. Hơn nữa, trong nhiều tài liệu, câu điều kiện (hay
điều kiện-kết quả) lại được đặt song hành với các kiểu câu nguyên nhân (hay
nguyên nhân-kết quả), câu nhượng bộ, câu tăng tiến, v.v. lại càng làm cho nội
dung ngữ nghĩa của câu điều kiện trở nên khó hình dung và mang tính biệt lập([1]).
Do
ngoại diên quá rộng của khái niệm “câu điều kiện”, để tránh nhầm lẫn, trong bài
này chúng tôi chủ yếu chỉ bàn đến cấu trúc có nếu, thường có dạng Nếu P thì
Q (và để tiện trình bày, một số chỗ chúng tôi sẽ gọi tắt là “cấu trúc/biểu
thức nếu”). Chúng tôi sẽ nhìn nhận
lại biểu hiện của hai nét nghĩa cơ bản nhất là nhân quả và giả định của nếu – thường được các sách ngữ pháp cho
là chỉ tố tiêu biểu của câu điều kiện. Qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ
thêm một số vấn đề về ngữ nghĩa của câu điều kiện tiếng Việt.